
Việt Nam có bờ biển dài 3.260km, hơn một triệu km2 lãnh hải và trên 3.000 hòn đảo gần bờ và hai quần đảo xa bờ, nhiều vùng đất thấp ven biển, trong đó có trên 80% diện tích đồng bằng sông Cửu Long và trên 30% diện tích đồng bằng sông Hồng – Thái Bình có độ cao dưới 2,5m so với mặt biển. Những vùng này hàng năm phải chịu ngập lụt nặng nề trong mùa mưa và hạn hán, xâm nhập mặn trong mùa khô. Biến đổi khí hậu và nước biển dâng có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nói trên, làm tăng diện tích ngập lụt, gây khó khăn cho thoát nước, tăng xói lở bờ biển và nhiễm mặn nguồn nước ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và nước sinh hoạt, gây rủi ro lớn đến các công trình xây dựng ven biển như đê biển, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị và khu vực dân cư ven biển.
Mực nước biển dâng và nhiệt độ nước biển tăng làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển và ven biển, gây nguy cơ đối với các rạn san hô và rừng ngập mặn, ảnh hưởng xấu đến nền tảng sinh học cho các hoạt động khai thác và nuôi trồng thuỷ sản ven biển.
Nước biển dâng ảnh hưởng đến các bãi tắm, các khu du lịch ven biển. Một số nơi có thể mất đi, một số khác bị đẩy sâu vào đất liền, ảnh hưởng đến việc khai thác. Các công trình di sản văn hoá, lịch sử, các khu bảo tồn, các khu du lịch sinh thá và các công trình hạ tầng ở những nơi bị nước biển dâng có thể bị ngập, phải di chuyển hay ngừng trệ làm gia tăng chi phí di chuyển, cải tạo và bảo dưỡng. .
Theo ước tính của IPCC , nếu mực nước biển chỉ dâng cao thêm 1 mét, Việt Nam sẽ mất hơn 12% diện tích lãnh thổ hiện là nơi sinh sống của 23% trong tổng số dân 84 triệu người.
Theo nghiên cứu của UNDP, nước biển dâng có thể làm ngập 5.000 km2 đất ở đồng bằng sông Hồng và khoảng 15.000-20.000 km2 đất ở đồng bằng sông Cửu Long.
Với mực nước biển ngày càng dâng cao, một số khu vực sẽ trở thành đồng chua nước mặn và cư dân địa phương có thể sẽ trở thành lớp người tỵ nạn mới vì môi trường sống bị hủy hoại.